|
Những “gánh lửa” vào thành phố
10/07/2010 21:46
Sau tiếng chuông chùa xé tan màn đêm u tịch, ở làng An Đông, ven TP Huế, nhiều người chị, người mẹ phải rón rén chui ra khỏi chăn ấm. Không lâu sau, những “khóm lửa hồng” lũ lượt đổ về thành phố với những gánh bún bò, bánh canh... phục vụ cho mọi người bữa điểm tâm nóng hổi và tươi ngon.
(Những gánh hàng lên phố)
Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km, xuôi theo con sông An Cựu về phía đông nam có một làng quê rất yên bình. Ngôi làng có tên là An Đông, thuộc xã Thủy An (cũ), nay thuộc phường An Đông, TP Huế, nằm sát bên vựa lúa tiến cung nổi tiếng ngày xưa “gạo de An Cựu”. Khác với làng An Cựu chuyên trồng giống lúa địa phương thơm ngon (giờ gần như đã tuyệt chủng), làng An Đông vốn là vùng chăn nuôi truyền thống, đặc biệt có giống lợn nhà thịt thơm ngon và các loại cua, cá đồng phong phú. Để giải quyết đầu ra cho sản phẩm chăn nuôi và nguồn sản vật dồi dào của làng, những người phụ nữ ở đây đã sản sinh ra nghề bún gánh, bánh canh...
Mỗi sáng tinh mơ, trên con đường dọc theo bờ sông An Cựu, từ thôn Nhất Đông, Nhì Đông đoàn bún gánh gồm các chị, các o, các mệ... nối đuôi nhau lặng lẽ gánh những lò than hồng tỏa về mọi nẻo đường của thành phố. Mỗi người chọn cho mình mỗi góc phố, dưới tán cây bồ đề, bên vỉa hè công sở... để dừng chân. O Vàng ngồi gần trụ sở Báo Thừa Thiên - Huế (đường Trần Thúc Nhẫn), o Bê kẽo kịt qua cầu Tràng Tiền, o Tê lên ngồi ở góc đường Điện Biên Phủ, chị Xuân ngược dốc Nam Giao... Trên những đôi vai trĩu nặng, họ gánh cả cuộc sống gia đình đi qua bao năm tháng.
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, trong bài viết về cơm hến, cho rằng cơm hến Huế thực sự ngon bởi ngoài tất cả những gia vị thông thường, còn có một thứ gia vị không đâu có được, chính là “lửa gánh”. Bún Huế cũng vậy, có lẽ chính những lò than hồng được các chị, các mẹ gánh qua bao con phố trong làn gió ban mai thổi nhẹ đã ninh giòn những khoanh giò, tảng bò gân, huyết, chả, cua... thành thứ nước ngọt thơm mang một hương vị riêng không nơi nào có được.
Từ An Đông, trong “đoàn quân” gánh lửa vào thành phố, o Tê, đã chọn hướng ngược dốc Nam Giao đến dừng chân ở kiệt 184 Điện Biên Phủ, TP Huế. Gánh bún của o bao giờ cũng nườm nượp thực khách. Những tô bún giò khoanh, móng, bò tái, gân... bốc khói, cay xè sáng nào cũng được bán hết nhanh chóng. O Tê vừa múc bún vừa tươi cười lạc quan. Khách đông. Bún bán hết nhanh. Ai cũng ngỡ o ăn nên làm ra. Thế nhưng, thật bất ngờ khi tôi theo chân về thăm nhà o ở thôn Nhì Đông, mới biết gia cảnh của o vô cùng khốn khó. Buổi chiều, o Tê ngồi bên bậu cửa lặt rau, rửa sạch để chuẩn bị cho gánh bún ngày hôm sau. Căn nhà lợp tôn tạm bợ bốn bề trống huơ.
“Buôn bán thế sao nhà cửa đơn sơ thế này?” - tôi hỏi. O Tê mỉm cười: “Cậu tưởng bán bún dễ giàu lắm à. Mỗi ngày, bán hết nồi tui chỉ kiếm được năm sáu chục ngàn thôi. Nhưng phải lo cơm ăn, áo mặc, cho con học hành... và hàng trăm thứ tiền khác. Hỏi cậu mần răng mà dư được...”. O Tê kể: “Tui bán bún từ năm 16 tuổi tới chừ. Còn nhỏ thì theo mẹ, lớn lên, lấy chồng rồi tách riêng ra. Nói thiệt, nếu chồng tui không đổ bệnh, thì tui cũng không đến nỗi khổ ri” (khổ như thế này - PV).
Chồng o Tê trước đây có nghề thợ mộc. Vợ bán bún, chồng làm thợ đời sống cũng khá thư thả. Cuộc sống đang yên ổn thì bố chồng đột ngột qua đời vì một cơn bạo bệnh. Chồng o, vì quá đau buồn đã đổ bệnh theo. Từ đó, ông không thể làm được việc nặng, chỉ phụ giúp vợ những việc nhẹ trong nhà. Chưa đủ ba mươi tuổi, một mình o phải gánh vác toàn bộ đời sống gia đình trên gánh bún hằng ngày. Nhẩm tính đến giờ, o đã có thâm niên bún gánh hơn 20 năm.
Chỉ mơ một điều
Cuộc sống cứ lặng lẽ trôi đi trên đôi vai của người phụ nữ. Những đứa con o Tê lớn lên không học chữ tới nơi tới chốn đã được o cho đi học nghề. Người con trai đầu làm nghề thợ mã (làm hàng mã phục vụ các lễ cúng) ngay tại nhà nhưng thu nhập chẳng bao nhiêu. Lại đang tuổi thanh niên làm được bao nhiêu anh đều tiêu pha hết. Thế nên, gánh bún của o Tê đến giờ vẫn còn trĩu nặng. Cả gia đình cứ ngày lụn tháng qua với mức thu nhập không thể tăng lên để có thặng dư nên gia đình o Tê vẫn chưa thể xây cất được một căn nhà đàng hoàng để ở. Tôi hỏi, bao nhiêu năm oằn vai với gánh bún, o có mơ ước gì không? Những tưởng với gia cảnh hiện tại, o sẽ mơ về một ngôi nhà khang trang. Thế nhưng, câu trả lời của o đã làm tôi như bừng tĩnh: “Chỉ muốn có sức khỏe!”.
O Tê nói: “Chừ so với tuổi mười sáu, mười bảy trước đây, tui đã yếu hơn nhiều lắm. Ngày gánh bún đi, đêm về xương cốt đau ê ẩm. Chồng đau yếu quanh năm, trong khi con cái chưa tới bờ tới bợt. Nghĩ giàu thì tui không mơ rồi, vì lấy chi mà giàu. Nhưng tui sợ nhất là đau!”.
Nỗi lo lớn nhất của o Tê may mắn cũng được trời chiếu cố. Người phụ nữ từ tuổi mười sáu đã gánh bún theo mẹ cho đến giờ chưa một lần đau ốm. Mỗi sáng o đều thức giấc từ khi chuông chùa đổ nhịp, cố cử động thật khẽ để khỏi làm kinh động giấc ngủ chồng, con. Ở làng An Đông, không chỉ một mình o Tê mà có hằng trăm người phụ nữ khác, hằng ngày, từ canh ba (khoảng 3 giờ sáng) đã phải thức dậy, rón rén chui ra khỏi chăn ấm. Và trên những đôi vai của họ là cả một gánh yêu thương, nhọc nhằn của người phụ nữ suốt đời lặng lẽ hy sinh cho chồng, cho con...
Bùi Ngọc Long |